Back Thông tin Thông tin pháp luật Chấm dứt hợp đồng lao động khi đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ 20 năm đóng BHXH

Chấm dứt hợp đồng lao động khi đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ 20 năm đóng BHXH

  • PDF.

Điều 36 Bộ luật lao động 2012 (BLLĐ) quy định các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động. Khoản 4 Điều 36 BLLĐ quy định Hợp đồng lao động được chấm dứt khi người lao động có đủ điều kiện về thời gian đóng BHXH và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 BLLĐ.

Điều 187 BLLĐ về tuổi nghỉ hưu quy định: người lao động đảm bảo điều kiện về thời gian đóng BHXH theo quy định pháp luật về BHXH được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi và nữ đủ 55 tuổi.

Theo đó có 2 điều kiện để chấm dứt Hợp đồng lao động trong trường hợp này là:

-            Đủ điều kiện về thời gian đóng BHXH từ 20 năm trở lên;

-            Đủ tuổi nghỉ hưu.

Như vậy, đối với trường hợp người đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ 20 năm đóng BHXH thì người sử dụng lao động không được đương nhiên đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Người sử dụng lao động chỉ được chấm dứt hợp đồng nếu đạt được thỏa thuận với người lao động theo khoản 3 Điều 36 (thỏa thuận chấm dứt hợp đồng).

Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận mà người sử dụng lao động vẫn muốn chấm dứt hợp đồng lao động thì thực hiện đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Nếu người lao động không có lỗi thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 38 BLLĐ hoặc người sử dụng lao động vi phạm thời hạn báo trước thì giải quyết theo trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật (Điều 42 BLLĐ):

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Các trường hợp có thể xảy ra và hậu quả pháp lý

(i) Nếu chấp nhận thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động

- Quyền lợi của người lao động: tự thỏa thuận với công ty (luật không quy định cụ thể nhưng có thể dựa vào trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật làm căn cứ thỏa thuận miễn sao đảm bảo quyền lợi cho người lao động và NSDLĐ chấp nhận);

- Được hưởng BHXH 1 lần theo quy định Điều 60 Luật BHXH 2014; hoặc

- Tiếp tục đóng BHXH tự nguyện đến khi đủ tuổi nghỉ hưu.

(ii) Tiếp tục làm việc đến khi đủ 20 năm đóng BHXH

Khi đó, hợp đồng lao động đương nhiên chấm dứt, người lao động được hưởng lương hưu hàng tháng, được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, được hưởng chế độ tử tuất.

(iii) Tiếp tục làm việc và công ty đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật

- Quyền lợi được hưởng theo quy định Điều 42 BLLĐ (mục 2 nêu trên).

- Được hưởng BHXH 1 lần theo quy định Điều 60 Luật BHXH 2014; hoặc

- Tiếp tục đóng BHXH tự nguyện đến khi đủ tuổi nghỉ hưu.

Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi Tổng đài 1900 6279 để được Luật sư tư vấn trực tiếp.