Back Thông tin Kiến thức về hợp đồng Tranh chấp hợp đồng đại lý nước giải khát

Tranh chấp hợp đồng đại lý nước giải khát

Xem kết quả: / 0
Bình thườngTuyệt vời 

Tóm tắt nội dung vụ việc:

Công ty trách nhiệm hữu hạn thực phẩm nước giải khát A là một doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài của Hàn Quốc tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là Công ty A) ký hợp đồng đại lý số 005/2010 ngày 01/02/2010 với chị Trần Thị T là hộ có đăng ký kinh doanh, để làm đại lý bán sản phẩm cho Công ty A tại thị xã Hà G, với số lượng hàng gồm các sản phẩm là nước tinh lọc 3000 thùng trong một tháng tính theo thời điểm từ ngày 01/02/2010 đến ngày 30/4/2010. Còn từ ngày 01/5/2010 đến ngày 31/01/2011 mỗi tháng chị T phải tiêu thụ 2400 thùng/tháng. Đối với mặt hàng sữa chua Yoyo 300 thùng/tháng, nước tăng lực Buffalo 500 thùng/tháng. Chị T đồng thời cũng là nhân viên của Công ty A.

Giá cả theo báo giá hàng tháng do công ty kèm theo chương trình khuyến mại là có chiết khấu cho đại lý. Hợp đồng có thoả thuận trong trường hợp có tranh chấp thì vụ việc sẽ được giải quyết bởi Toà Kinh tế Toà án nhân dân thành phố HN.

Sau khi ký hợp đồng chị Trần Thị T đã thực hiện được 03 tháng, còn tháng 5/2010 chị nghỉ sinh con nên chị có văn bản gửi Tổng giám đốc xin được nghỉ. Ngày 01/6/2010, Công ty có Công văn số 024 gửi cho chị T yêu cầu chị thực hiện hợp đồng đến hết thời hạn thoả thuận trong hợp đồng. Ngày 27/4/2011, Công ty A đã có đơn khởi kiện tại Tòa án thành phố HN yêu cầu chị T phải bồi thường cho Công ty số tiền là 212.520.000 đồng vì không thực hiện tiếp hợp đồng.

Phía chị Trần Thị T trình bày:

Chị có ký hợp đồng đại lý số 005/2010 ngày 01/02/2010 với Công ty A và chị đã thực hiện hợp đồng được 03 tháng, nhưng do sinh con, nên chị phải nghỉ và có gửi đơn đến công ty A xin dừng hợp đồng, ngày 1/6/2010 Công ty có công văn số 024 yêu cầu chị thực hiện tiếp tháng 6/2010 và chỉ tiêu tháng 5/2010. Chị T đã thực hiện tháng 6/2011 như Công ty yêu cầu, còn tháng 5/2011 không quy định trong hợp đồng, nên chị không thực hiện. Mặt khác phía Công ty luân chuyển hàng chậm và nợ tiền chiết khấu của chị năm 2009 chưa thanh toán và chiết khấu đầu năm 2010 cũng chưa trả cho đại lý, chị đề nghị công ty phải thanh toán cho chị.

Bình luận:

Có quan điểm cho rằng chị T có thể áp dụng Điều 426 BLDS năm 2005 để xin chấm dứt hợp đồng trước thời hạn khi có thông báo trước cho bên giao đại lý.

 

Điều 426 BLDS năm 2005 quy định:

Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự

1. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

2. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

3. Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán.

Tuy nhiên quan điểm này là không đúng bởi: Hợp đồng đại lý giữa hai bên là hợp đồng thương mại, trước hết chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại năm 2005. Tương tự như tranh chấp số 3, hợp đồng đại lý này là hợp đồng đại lý bao tiêu theo quy định tại Điều 169 Luật Thương mại năm 2005. Vì vậy, khi hộ kinh doanh đã ký hợp đồng bao tiêu đến tháng 01/2011 thì phải có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng với số lượng đã cam kết tiêu thụ cho đến hết thời hạn nói trên. Quan hệ hợp đồng lao động giữa chị T với Công ty và quan hệ hợp đồng đại lý là hai quan hệ hợp đồng độc lập, chị T không thể lấy lý do nghỉ chế độ thai sản để xin chấm dứt hợp đồng.

Mặt khác, nếu chị T được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thì thời gian sớm nhất mà chị T được dừng hợp đồng là 60 ngày, kể từ ngày thông báo theo quy định của Điều 177 Luật Thương mại năm 2005. Trên thực tế thì chị T cũng đã vi phạm thời gian này.

Điều 177 Luật Thương mại năm 2005 quy định:

Thời hạn đại lý

1. Trừ trường hợp có thoả thuận khác, thời hạn đại lý chỉ chấm dứt sau một thời gian hợp lý nhưng không sớm hơn sáu mươi ngày, kể từ ngày một trong hai bên thông báo bằng văn bản cho bên kia về việc chấm dứt hợp đồng đại lý.

2. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu bên giao đại lý thông báo chấm dứt hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đại lý có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường một khoản tiền cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý đó.

Giá trị của khoản bồi thường là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý cho mỗi năm mà bên đại lý làm đại lý cho bên giao đại lý. Trong trường hợp thời gian đại lý dưới một năm thì khoản bồi thường được tính là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhận đại lý.

3. Trường hợp hợp đồng đại lý được chấm dứt trên cơ sở yêu cầu của bên đại lý thì bên đại lý không có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý.

Bên cạnh đó, mặc dù Công ty A là một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng theo quy định của pháp luật thì doanh nghiệp này là pháp nhân Việt Nam. Vì vậy khi có tranh chấp và khởi kiện ra Toà án thì Toà án có thẩm quyền giải quyết là Toà án nhân dân cấp huyện theo quy định của Điều 29 và Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chị T khởi kiện ra Toà Kinh tế Tòa án nhân dân thành phố HN là không đúng  với các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:

Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án

1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm:

a) Mua bán hàng hoá;

b) Cung ứng dịch vụ;

c) Phân phối;      

d) Đại diện, đại lý;

đ)  Ký gửi;

e) Thuê, cho thuê, thuê mua;

g) Xây dựng;

h) Tư vấn, kỹ thuật;

i) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa;

k) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển;

l) Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác;

m) Đầu tư, tài chính, ngân hàng;

n) Bảo hiểm;

o) Thăm dò, khai thác.

2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.

3. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.

4. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định.

Điều 33 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định:

Thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

1. Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h và i khoản 1 Điều 29 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp về lao động quy định tại khoản 1 Điều 31 của Bộ luật này.

2. Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây:

a) Yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 26 của Bộ luật này;

b) Yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 28 của Bộ luật này.

3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý sự khác biệt giữa quy định của Điều 758 BLDS năm 2005 về yếu tố nước ngoài và hướng dẫn của Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn Bộ luật Tố tụng dân sự để xác định trường hợp nào vụ việc thuộc thẩm quyền của toà án cấp tỉnh, trường hợp nào không.

Theo quy định của Điều 758 BLDS năm 2005 thì quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được hiểu:

- Một trong giao dịch dân sự có quốc tịch nước ngoài (hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài);

- Căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài;

- Tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.

Trong khi đó, theo hướng dẫn của Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP thì yếu tố chủ thể của giao dịch không phụ thuộc vào quốc tịch mà phụ thuộc vào việc thời điểm Toà án thụ lý vụ án thì đương sự có mặt tại Việt Nam hay không và đương sự là tổ chức nước ngoài có văn phòng đại diện, chi nhánh ở Việt Nam hay không.

Điều 758 BLDS quy định:

Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.

Điểm 4 Mục I Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP quy định:

4.1. Đương sự ở nước ngoài bao gồm:

a) Đương sự là cá nhân không phân biệt là người nước ngoài hay người Việt Nam mà không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Toà án thụ lý vụ việc dân sự, đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở nước ngoài hoặc người nước ngoài không ở Việt Nam có mặt tại Việt Nam để nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự hoặc đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Toà án.

Đối với yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha, mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam, thì theo quy định tại khoản 3 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 là thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam.

b) Cơ quan, tổ chức không phân biệt là cơ quan, tổ chức nước ngoài hay cơ quan, tổ chức Việt Nam mà không có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại điện tại Việt Nam vào thời điểm Toà án thụ lý vụ việc dân sự.

4.2. Tài sản ở nước ngoài

Tài sản ở nước ngoài là tài sản được xác định theo quy đỉnh của BLDS ở ngoài biên giới lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại thời điểm Toà án thụ lý vụ việc dân sự.

4.3. Cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài.

Cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài là trường hợp trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự cần phải tiến hành một hoặc một số hoạt động tố tụng dân sự ở nước ngoài mà Toà án Việt Nam không thể thực hiện được, cần phải yêu cầu cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện hoặc đề nghị Toà án nước ngoài thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.

Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi Tổng đài 1900 6279 để được Luật sư tư vấn trực tiếp.