Back Thông tin Kiến thức về hợp đồng Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại

Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại

Xem kết quả: / 0
Bình thườngTuyệt vời 

Không phải lúc nào mọi công việc cũng có thể “ thông đồng bến giọt”, “ trái gió trở trời” cũng là việc thường tình. Tuy nhiên hợp đồng là luật của các bên, vì vậy nếu hợp đồng không được thực hiện theo thỏa thuận thì người bị thiệt hại phải được đền bù thỏa đáng. Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương mại được quy định tại điều 302 Luật thương mại 2005: “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm”.

Có ba điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường hợp đồng thương mại ( đ.303 Luật TM) như sau:

-         Có hành vi vi phạm hợp đồng

-         Có thiệt hại thực tế

-         Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.

Vi phạm hợp đồng là việc không thực hiện hợp đồng hoặc thực hiện không đúng hợp đồng. Vấn đề khá đơn giản để xác định thế nào là một vi phạm hợp đồng, nếu các thỏa thuận trong hợp đồng đều rõ ràng và các bên hiểu giống nhau về từng điều khoản trong hợp đồng. Vấn đề trở nên phức tạp khi thỏa thuận của hợp đồng không rõ ràng.

Về vấn đề lỗi, pháp luật nhiều nước không cho rằng yếu tố lỗi là yếu tố đề xác định bồi thường thiệt hại. Song trong pháp luật Việt Nam có một điểm bất cập rằng: điều 303 LTM 2005 không coi yếu tố lỗi để quy kết trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trong khi đó theo khoản 1 điều 308 BLDS 2005 thì người không thưc hiện nghĩa vụ dân sự chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi, tức là ngoài 3 điều kiện kể trên thì cần thêm 1 điều kiện nữa mới làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là “có lỗi của bên vi phạm” Như vậy đây là sự thiếu đồng bộ to lớn trong các quy định liên quan đến chế tài giữa BLDS 2005 và LTM 2005 là 2 đạo luật trụ cột điều chỉnh các quan hệ dân sự thương mại của xã hội.

Thiệt hại là những gì một bên mất đi và những gì đáng lẽ ra họ nhận được nhưng do vi phạm hợp đồng của phía bên kia nên họ đã không thể nhận được. Thiệt hại bảo gồm thiệt hại thực tế và thiệt hại phát sinh.

Về cách tính thiệt hại, nếu các bên không có thỏa thuận, pháp luật Việt Nam quy định khác chi tiết cách tính.( Luật TM không quy định nên có thể tham khảo từ Đ.608 đến Đ.612 BLDS 2005).

Cũng có trường hợp ngoại lệ là khi có vi phạm hợp đồng, có thiệt hại xảy ra nhưng không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường. Đó là việc vi phạm hợp đồng do sự kiện bất khả kháng. Bất khả kháng là sự kiện mà các bên không thể lường trước được, tức là nằm ngoài hoàn toàn khả năng tính toán của các bên. Thường có 3 loại sự kiện bất khả kháng:

  • ØThiên tai: ví dụ: gió, bão, động đất, núi lửa tuôn trào,...nên A không thể giao hàng cho B đúng thời hạn như đã thỏa thuận.
  • ØChiến tranh: Ví dụ: vì chiến tranh Iraq năm 2003, doanh nghiệp VN không thể giao hàng tại Iraq như đã thỏa thuận.
  • ØQuyết định chính trị, thay đổi pháp luật: Ví dụ: B không thể nhận hàng nhập khẩu vào VN, vì Nhà nước VN đã cấm nhập khẩu loại hàng hóa mà khi A và B thỏa thuận mua bán chưa bị cấm nhập khẩu vào VN.

Khi có sự kiện bất khả kháng, nếu muốn được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại, bên có trách nhiệm bồi thường phải yêu cầu một cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận về sự kiện bất khả kháng. Pháp luật các nước quy định khác nhau về vấn đề này, nhưng nói chung quyền xác nhận sự kiện bất khả kháng thường do Phòng thương mại và công nghiệp thực hiện.

Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi Tổng đài 1900 6279 để được Luật sư tư vấn trực tiếp.