Back Thông tin Kiến thức về hợp đồng Hợp đồng trung gian thương mại

Hợp đồng trung gian thương mại

Xem kết quả: / 2
Bình thườngTuyệt vời 

1.1.           Khái niệm về hoạt động trung gian trong hoạt động thương mại và dịch vụ trung gian thương mại.

Phương thức giao dịch là cách thức mà thương nhân lựa chọn để thiết lập quan hệ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên thị trường cũng như xác định các điều kiện trong các giao dịch này và việc lựa chọn này phụ thuộc vào đối tượng giao dịch, thời gian giao dịch, thị trường giao dịch cũng như đặc trưng hay thời cơ của thương vụ. Nhiều phương thức giao dịch khác nhau đã xuất hiện trong lịch sử phát triển thương mại và có hai phương thức giao dịch phổ biến nhất là phương thức giao dịch trực tiếp và phương thực giao dịch qua trung gian.

Phương thức giao dịch trực tiếp là phương thức giao dịch trong đó người bán bà người mua trực tiếp bàn bạc và thỏa thuận với nhau về các nội dung của giao dịch. Có thể thấy rằng, nhờ phương thức giao dịch trực tiếp, việc thiết lập quan hệ mua bán của thương nhân sẽ có nhiều điểm thuận lợi vì thương nhân trực tiếp tham gia đàm phán giao dịch do đó có thể ký kết được với đối tác hợp đồng phù hợp với những mong muốn, lợi ích mà thương nhân muốn đạt được trong thương vụ đó. Tuy nhiên, thường thấy rằng phương thức giao dịch trực tiếp thực sự chỉ có thể đem lại lợi ích như vậy đối với các thương nhân thực hiện hoạt động trên thị trường của mình hoặc đối với các thương nhân có nguồn vốn lớn và đội ngũ thực hiện giao dịch giàu kinh nghiệm. Còn đối với trường hợp các thương nhân vừa và nhỏ, hoặc trường hợp thương nhân tham gia vào thị trường mới thì phương pháp trực tiếp thật sự không phải là lựa chọn tối ưu vì có thể dễ gây rủi ro. Với trường hợp này, thương nhân có thể lựa chọn phương thức gioa dịch qua trung gian.

Phương thức giao dịch qua trung gian trong hoạt động thương mại là phương thức giao dịch trong đó mọi việc thiết lập quan hệ giữa người mua và người bán hàng hóa (hoặc giữa người cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ) và việc xác định các điều kiện giao dịch thông qua một người trung gian.

Như vậy, có thể thấy rằng trong phương thức giao dịch qua trung gian, giao dịch mua bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ không chỉ có hai bên nữa mà xuất hiện thêm một bên nữa và bên này đứng ở vị trí độc lập so với hai bên trong giao dịch, thực hiện dịch vụ theo sự ủy quyền và vì lợi ích của một trong hai bên để hưởng thù lao.

Dưới góc độ pháp lý, pháp luật nhiều nước đã đưa ra khái niệm “trung gian tiêu thụ” hoặc “địa diện thương mại” để khái quát lên hiện tượng thương nhân nhận sự ủy quyền của thương nhân khác để tiến hành hoạt động vì lợi ích của bên ủy quyền để mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ thương mại cho bên thứ ba.

Về vấn đề này, theo quy định tại khoản 11 điều 13 của Luật thương mại năm 2005 (LTM 2005), hoạt động trung gian thương mại được định nghĩa là “hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại”.

Xuất phát từ đây, thấy rằng hoạt động cung ứng dịch vụ thương mai (nhằm mục tiêu lợi nhuận) do một thương nhân thực hiện tạo nên một loại dịch vụ, đó là dịch vụ trung gian thương mại. Trong dịch vụ trung gian thương mại này, bên trung gian (bên đại diện, bên môi giới, bên nhận ủy thác, bên đại lý) có vai trò làm cầu nối giữa bên thuê dịch vụ và bên thứ ba. Bên trung gian thực hiện họa động mua bán hàng hóa cũng như cung ứng dịch vụ vì lợi ích của bên thuê dịch vụ (tức bên ủy quyền) chứ không phải vì lợi ích cho mình. Tuy thế, bên trung gian (bên được ủy quyển) sẽ được hưởng thù lao khi hoàn thành nhiệm vụ bên ủy quyền giao phó.

1.2.           Hợp đồng trung gian thương mại.

1.2.1.     Khái niệm.

Theo quy định của LTM 2005, các hoạt động dịch vụ trung gian thương mại như đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại phát sinh trên cơ sở hợp đồng đại diện cho thương nhân; hợp đồng đại diện cho thương nhân; hợp đồng môi giới thương mại; hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa; và hợp đồng đại lý thương mại. Như vậy có thể thấy rằng hợp đồng trung gian thương mại là hình thức pháp lý của hoạt động dịch vụ trung gian thương mại.

Theo đó, có thể định nghĩa hợp đồng trung gian thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên, trong đó một bên là thương nhân với tư cách là bên được ủy quyền thực hiện hoạt động trung gian thương mại như đại diện thương mại, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa, đại lý thương mại vì lợi ích của bên ủy quyền với mục tiêu hưởng thù lao còn bên ủy quyền có nghĩa vụ trả tiền thù lao cho bên được ủy quyền.

1.2.2.     Đặc điểm.

  • ØBên thực hiện dịch vụ trung gian phải là thương nhân và có tư cách pháp lý độc lập với bên thuê dịch vụ và bên thứ ba.

Theo khoản 1 của các điều 141, điều150, điều 155 và điều166 của LTM 2005, bên trung gian (bên đại diện, bên môi giới, bên nhận ủy thác, bên đại lý) phải là thương nhân theo như quy định tịa điều 6 LTM 2005 để có thể được thực hiện các dịch vụ trung gian thương mại.

Bên trung gian được thực hiện hoạt động thương mại với tư cách pháp lý hoàn toàn độc lập và tự do trong quan hệ với bên thuê dịch vụ (bên ủy quyền) và bên thức ba. Vì được ủy quyền cung ứng một dịch vụ thương mại cho bên ủy quyền nên bên trung gian này không phải là người làm công ăn lương của bên ủy quyền. Thêm nữa, bên trung gian là một thương nhân có trụ sở riêng, có tư cách pháp lý độc lập, tự định đoạt thời gian làm việc và tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình. Những điều này giúp phân biệt bên trung gian trong hoạt động thương mại với các chin nhánh, văn phòng đại diện do thương nhân lập ra để thực hiện hoạt động kinh doanh của thương nhân và nhưng người có chức năng đại diện khác như giám đốc doanh nghiệp hay thành viên của công ty hợp danh.

  • ØTư cách pháp lý của bên trung gian trong hợp đồng trung gian thương mại với bên (hoặc các bên) thứ ba.

Trong hợp đồng trung gian thương mại, bên trung gian là bên được một hay nhiều thương nhân khác ủy quyền thực hiện hoạt động thương mại với bên ( hoặc các bên) thứ ba. Theo quy định của LTM 2005, khi thực hiện dịch vụ đại diện cho thương nhân, bên trung gian được nhân danh người ủy quyền và thực hiện giao dịch với bên (hoặc các bên) thứ ba trong phạm vi được ủy quyền[1]. Còn khi thực hiện dịch vụ môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa hoặc đại lý thương mại, bên trung gian sử dụng danh nghĩa của mình[2]. Như vậy, việc xác định được tư cách của bên trung gian trong hợp đồng trung gian thương mại với bên (hoặc các bên) thứ ba giúp xác định nghĩa vụ phát sinh vói người thứ ba sẽ thuộc về ai.

Trong hợp đồng trung gian thương mại, bên trung gian (bên được ủy quyền) thực hiện việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại với bên thứ ba không vì lợi ích của mình mà vì lợi ích của bên ủy quyền. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ được bên ủy quyền giao cho, bên trung gian (bên được ủy quyền) sẽ được hưởng thù lao từ bên ủy quyền.

  • ØHợp đồng trung gian thương mại phải được lập thành văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.

Như đã biết, trong hợp đồng trung gian thương mại có bên ủy quyền (bên trung gian) và bên được ủy quyền và các bên này có quyền và nghĩa vụ với nhau. Thêm nữa, khi thực hiện xong nhiệm vụ được giao, bên ủy quyền phải trả cho bên được ủy quyền một khoản thù lao. Như vậy, thấy rằng các hợp đồng trung gian thương mại (hợp đồng đại diện cho thương nhân; hợp đồng môi giới thương mại, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng đại lý) đều là hợp đồng song vụ và có tính đền bù. Thêm nữa, về mặt hình thưc, các hợp đồng này buộc phải được thể hiện bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương với văn bản. Các hình thức đó là điện báo, TELEX, FAX, thông điệp dữ liệu (là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và lưu trữ bằng phương tiện điện tử) và các hình thức khác theo quy định của pháp luật[3].

1.3.           Các loại hợp đồng trung gian thương mại.

Theo quy định của LTM 2005, thấy rằng hợp đồng trung gian thương mai gồm 4 loại, đó là (1) hợp đồng đại diện cho thương nhân; (2) hợp đồng môi giới thương mại; (3) hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa; và (4) hợp đồng đại lý thương mại.



[1]  Khoản 1, Điều 141 và Khoản 1, Điều 145 Luật thương mại 2005.

[2]  Khoản 1, Điều 150; Điều 155; và Điều 166 Luật Thương mại 2005.

[3]  Giáo trình Luật Thương mại 2, Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân  2008, tr.81.

Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi Tổng đài 1900 6279 để được Luật sư tư vấn trực tiếp.